09 tháng 3 2015

Dù ai đi ngược về xuôi - Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba

0 nhận xét
Từ bao đời nay, câu ca ấy vẫn in sâu trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam. Và dù ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này, cứ đến ngày Giỗ Tổ, là hàng triệu người con mang dòng máu Việt cùng nhau hành hương hoặc hướng về đất Tổ, thắp nén tâm hương, nhớ về nguồn cội, tri ân tổ tiên với lòng thành kính.
Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng có nghi lễ thờ cúng tổ tiên, thờ nhân vật khai sáng dân tộc. Song, hiếm có dân tộc nào trên hành tinh này mà người dân sinh sống trên mọi miền Tổ quốc cũng như kiều bào đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài cùng hướng về một ngày Quốc Tổ, chung một cội rễ như dân tộc Việt Nam.

Ý nghĩa lịch sử của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương


Ngày Giỗ tổ Hùng Vương hay Lễ hội Đền Hùng là một ngày lễ của Việt Nam. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc Kinh tưởng nhớ công lao dựng nước của Hùng Vương. Lễ được tổ chức hàng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 2/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hằng năm đã trở thành ngày lễ lớn - Quốc lễ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Nguồn gốc của lễ Giỗ Tổ

Truyền thuyết kể rằng Tổ Phụ Lạc Long Quân lấy Tổ Mẫu Âu Cơ sinh ra 100 con, 50 con theo Cha xuống biển, 50 con theo Mẹ lên núi và con cả được truyền ngôi lấy hiệu là Hùng Vương. Thường thường nói đến giỗ Tổ là nói đến giỗ Tổ Hùng Vương. Nhưng niên hiệu lập quốc là năm 2879 tr.CN, thời Kinh Dương Vương, người sáng lập ra họ Hồng Bàng.

Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Hùng Vương là cháu đích tôn của Kinh Dương Vương. Giỗ Tổ vì vậy phải là giỗ Tổ Kinh Dương Vương. Trong thời khai quốc, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương đều là những Tổ Phụ quan trọng của nòi giống Lạc Hồng. Giỗ Tổ vì thế nên cũng nhớ đến các Tổ Phụ Tổ Mẫu thời khai quốc, không nên chỉ nhớ đến Hùng Vương không mà thôi.
Ý nghĩa lịch sử của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương? 2


Ngày Giỗ tổ Hùng Vương xuất hiện từ khi nào? Theo những tài liệu còn lưu lại, hình thức sơ khai của Ngày Giỗ Tổ đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử, cách đây hơn 2000 năm. Dưới thời Thục Phán – An Dương Vương, cột đá thề đã được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi rõ: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương, xin đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Hùng Vương trao lại; nếu nhạt hẹn, sai thề sẽ bị gió giăng, búa dập”. Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, nhiều vị vua có tên tuổi của các triều đại phong kiến Việt Nam ngay từ khi lên ngôi đã từng bước xác lập “ngọc phả” về thời đại Hùng Vương, khẳng định vai trò to lớn của các Vua Hùng đối với non sông đất nước

Ngày Giỗ Tổ là ngày gì?

Theo truyền thuyết thì có 18 đời vua HÙNG. 1 đời vua là 1 triều đại. Truyền thuyết ghi 18 đời Hùng vương có tổng cộng 180 vua.

Nhưng tại sao chọn ngày ‘giỗ vua tổ’ là ngày trọng đại coi như ngày khai sinh đất nước mà không chọn ngày sinh hay ngày lên ngôi của ngài?

Nghiên cứu cổ sử Trung Hoa mà Sử thuyết họ Hùng cho là Bách Việt sử ta thấy: vua Hạ vũ được tôn là tổ của nhà Hạ nhưng ông Khải mới chính là vua đầu tiên của nhà Hạ, ông Cơ xương vẫn được coi là tổ nhà Chu nhưng thực ra con ông là Cơ Phát mới là vua đầu của nhà Chu.

Như vậy nghĩa là ngày giỗ của vua tổ chính là ngày lên ngôi của vua đầu khai sáng triều đại.

Tương tự, quốc gia của người họ Hùng cũng thế, trước khi trở thành 1 vương quốc bao giờ cũng có thời lập quốc, ngày kết thúc thời lập quốc cũng chính là ngày bắt đầu của thời vương quốc, cả thời gian lập quốc được người Việt ‘siêu nhiên hóa’ thành thời trị vì của vua tổ, ngày vua tổ mất chính là ngày lên ngôi của vua đầu tiên tức mốc thời gian bắt đầu có quốc gia dân tộc hay là ngày khởi đầu của lịch sử quốc gia.

Ý nghĩa của ngày 10/3
Ý nghĩa lịch sử của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương? 3

Tại sao tiền nhân lại chọn ngày 10/3 chứ không phải là một ngày khác? Theo Dịch học:

- Số 3 trong tháng 3 giỗ tổ là số của Địa chi

- Số 10 trong ngày 10 là số của Thiên can.

Tháng 3 âm lịch là tháng Thìn theo lịch nhà Hạ, Thìn là con rồng, Hoa ngữ đọc là LUNG, âm Hán Việt là LONG, Lung và Long là đồng âm của LANG, chính vì điều này con Rồng được dùng tượng trưng cho Vua.

- Năm là số trung cung của Hà-Lạc nơi điều hòa ngũ hành nên được dùng chỉ thủ lãnh, vua, người cầm đầu

- Trong tiếng Việt: năm hay lăm → lang

Ngôn ngữ Thái và Mường hiện nay từ lang cũng có nghĩa là Thủ lãnh, người cầm đầu.

- Tóm lại: ý nghĩa của số 3 –Thìn chính là Lang là vua.

- Số 10 là can KỶ; đi hết 1 vòng trở về khởi đầu là Kỷ, nên ngày KỶ cũng là Kỵ, ngày KỴ tức ngày Giỗ.

- Số 10 và số 3 căn cứ trên 2 hệ Can - Chi theo Dịch học họ HÙNG giải mã ra là: KỴ LONG ý tứ rất rõ ràng nghĩa là ngày GIỖ VUA.

Vua ở đây là vua tổ như đã trình bày ở trên, ngày giỗ của vua tổ cũng chính là ngày lên ngôi của vua đầu tiên, ngày khởi đầu của vương triều thứ nhất, ngày bắt đầu của Lịch sử quốc gia.
Ý nghĩa lịch sử của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương? 4

Cứ ngày 10 tháng 3 âm lịch người người trẩy hội đến với Đền Hùng - tìm về nguồn cội của mình. Lễ hội là dịp để con Lạc, cháu Hồng hành hương về nơi đã sinh ra dân tộc Việt Nam anh hùng - một dân tộc chưa biết cúi đầu khuất phục bất kỳ một tên giặc ngoại xâm nào, kể cả những tên hùng mạnh nhất trên thế giới như Pháp và Mỹ. Đây không chỉ thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc của mỗi người Việt Nam mà còn trở thành niềm kiêu hãnh đối với các dân tộc đã, đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới; bạn bè khắp năm châu cảm phục, kính nể dân tộc Việt Nam anh hùng.

Có thể nói ngày 10 tháng 3 hàng năm là ngày duy nhất có được của toàn thể người Việt mà sự hân hoan tự nhiên phát ra từ đáy lòng, là ngày giờ linh thiêng khiến giữa tất cả người Việt với nhau thực sự không có sự ngăn cách nào dù mong manh nhất.

Không chỉ người Việt chúng ta tự hào về Đền Hùng, mà tìm vào những dòng lưu bút của các đoàn đại biểu quốc tế và bạn bè khắp năm châu bốn biển từng đến thăm viếng Đền Hùng, chúng ta thật sự xúc động khi được biết Đền Hùng và các di tích trên Nghĩa Lĩnh đã làm cho cả thế giới phải cúi đầu vị nể ý thức cội nguồn dân tộc của chúng ta. Nhiều dòng lưu bút thừa nhận. "Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam... Đền Hùng là một di tích vô giá của nhân dân Việt Nam. Đây là biểu tượng của tổ tiên dân tộc Việt Nam - một dân tộc đã có truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm".

Theo báo Đường bộ

Chiến dịch Hồ Chí Minh

0 nhận xét
Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là chiến dịch quân sự có thời gian ngắn nhất trong chiến tranh Việt Nam. Chỉ diễn ra trong 6 ngày (từ 26/4 đến 30/4/1975) song chiến dịch đã đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử Việt Nam.

Những ngày cuối tháng 3 năm 1975, chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” với tốc độ “Một ngày bằng 20 năm”. Bộ chính trị xác định : “Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu”.

Ngày 14/4/1975, Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của Bộ chỉ huy chiến dịch, đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, phương án chiến dịch được thông qua lần cuối.


Sáng 30/4/1975, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất. (ảnh tư liệu)

Để chắc thắng trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định tập trung lực lượng lớn chủ lực và binh khí kỹ thuật cho chiến dịch, gồm: Quân đoàn 1 (thiếu Sư đoàn 308 ở lại bảo vệ miền Bắc), Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và Đoàn 232. Tổng số lực lượng là 15 sư đoàn, một lữ đoàn và 4 trung đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn tăng thiết giáp; 8 lữ đoàn, trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn và 10 tiểu đoàn thông tin; một trung đoàn tên lửa, hai sư đoàn ô tô vận tải, một bộ phận hải quân và không quân, cùng lực lượng địa phương trong địa bàn chiến dịch.


Mít tinh mừng ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. (ảnh tư liệu)

Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm các đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy; các đồng chí Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh làm Phó Tư lệnh, Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy, Lê Ngọc Hiền - quyền Tham mưu trưởng.

Chấp hành chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã xác định: “Đánh đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng, kết thúc cuộc chiến tranh, giành thắng lợi triệt để”.

Bộ Tư lệnh xác định hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch là hướng bắc và tây bắc, trong đó hướng tây bắc là chủ yếu nhất. Hướng đông và tây nam là những hướng hiểm yếu và quan trọng. 5 mục tiêu chủ yếu trong nội thành phải nhanh chóng đánh chiếm là: Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát, Dinh Độc Lập.

Ngày 25/4, mọi công tác chuẩn bị của ta cơ bản đã hoàn thành, các lực lượng chiến dịch đã vào đến vị trí triển khai và sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

Trước đó, ngày 21/4, theo chủ trương của Mỹ, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Trần Văn Hương lên thay và kêu gọi “ngừng bắn để thương lượng”.

Ngày 26/4, Trần Văn Hương từ chức để nhường chỗ cho con bài chót của Mỹ là Dương Văn Minh. Song âm mưu của Mỹ chỉ là ảo tưởng. Giờ chết của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam đã điểm.

17 giờ ngày 26/4/1975, cuộc tổng công kích đánh chiếm Sài Gòn bắt đầu, mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Chiến dịch Hồ Chí Minh đã sử dụng đòn tấn công quân sự rất mạnh, áp đảo quân địch, đi trước một bước thúc đẩy, hỗ trợ, tạo đà cho đòn nổi dậy của quần chúng; tạo uy lực lớn lao và thanh thế vang dội của đòn tiến công quân sự của các cánh quân chủ lực; phá vỡ hệ thống ngụy quyền cơ sở, cùng với đòn quân sự đập tan ý chí đề kháng của địch.

Từ ngày 26 đến 28/4, ta tiến công vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, thực hiện bao vây cô lập triệt để Sài Gòn, tạo thêm thế có lợi để thực hành tiến công trên toàn mặt trận.

Ngày 29/4, đòn quân sự của ta đã chặn đánh và tiêu diệt các sư đoàn 22, 25, 5, 18, thủy quân lục chiến, các lữ 1 dù, lữ 3 kỵ binh ở tuyến ngoài của địch Trong khi đó, các lực lượng đặc công, biệt động, bộ đội địa phương đã phá hủy các trận địa pháo, đánh chiếm các đồn bốt, chiếm giữ các cầu vùng ven.

Ngày 30/4/1975, các binh đoàn của ta đã thọc sâu hùng mạnh, tiến chiếm ngay các mục tiêu chiến lược của địch, bắt toàn bộ nội các bù nhìn của địch, buộc Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát thuộc quân khu 3 địch, lực lượng tổng trù bị còn lại và tàn quân của quân đoàn 1, quân đoàn 2. Đập tan hệ thống ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn/Gia Định và các tỉnh Tân An, Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu… Tạo điều kiện cho Quân khu 8 và 9 cùng với nhân dân địa phương tiến công nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân khu 4 địch và giải phóng đồng bằng sông Cửu Long trong hai ngày 30/4 và 1/5/1975.

Chiến dịch Hồ Chí Minh tuy chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Những kinh nghiệm đã phát triển đến đỉnh cao của chiến dịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú thêm nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài gần một phần ba thế kỷ đang lùi vào quá khứ. Những những giá trị truyền thống và bài học lịch sử của nó thì còn lại mãi mãi với các thế hệ người Việt Nam.
Văn Bình (Bộ Quốc phòng)

07 tháng 7 2014

Bắc kim thang, cà lang bí rợ

3 nhận xét
Bắc kim thang cà lang bí rợ" có thể được coi là câu hát cửa miệng của tất cả chúng ta thời thơ ấu, thế nhưng mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó, thậm chí tôi dám cam đoan đến hơn 90% chúng ta hát sai câu hát này.

Chuyện kể rằng:

“Ngày xửa ngày xưa, ở một làng quê nọ, có hai người bạn làm nghề buôn bán cùng nhau. Một người đi soi đèn bắt ếch về đêm, còn anh kia thì chuyên đi bán dầu thắp đèn vào rạng sáng. Nhà họ dựng trên một cù lao nhỏ ven sông, tách biệt với làng xóm, muốn đi vào chợ làng phải đi ngang một cây cầu khỉ vắt vẻo. Do hoàn cảnh đơn chiếc, nên hai anh cũng thân thiết với nhau. Có lần vì mẹ già của anh bán ếch bệnh mà không có tiền chạy chữa nên qua đời, anh bán dầu liền bỏ tiền ra giúp đỡ ma chay mà không hề tính toán, vì thế mà anh bắt ếch càng quý trọng tình bạn của anh bán dầu.

Một đêm nọ, trong lúc đi làm việc, anh bắt ếch nghe tiếng kêu thảm thiết phát ra từ một cái bẫy trên đồng. Tính tò mò, anh lại mở ra coi thì phát hiện ra hai con chim le le và bìm bịp nằm trong bẫy, do chúng giành ăn với nhau mới bất cẩn rơi vào bẫy của con người. Hai con chim ra sức năn nỉ anh bắt ếch mở bẫy tha cho mình, rồi hứa sẽ đền ơn báo đáp. Vốn là người có tính nhân từ, anh bắt ếch cũng xuôi lòng rồi giải thoát cho chúng.

Vài ngày sau, hai con chim cùng bay đến nhà anh bắt ếch để cảnh báo cho anh biết tai ương sắp đến. Chúng nghe được hai con ma da ở sông bàn với nhau rằng sẽ kéo chân anh bán dầu và anh bắt ếch, cho hai anh chết, thế mạng cho chúng để chúng được đầu thai. Vì hai con ma này chết đã lâu, nếu trong 7 ngày không bắt được người thay thế sẽ bị hồn phách tứ tán, không được đầu thai nữa. Thêm vào đó, ma da cũng chỉ có thể bắt hai anh khi trời vừa rạng sáng, lúc anh bán dầu ra chợ và lúc anh bắt ếch về nhà, bởi vì khi mặt trời lên thì chúng không còn ma phép.

Ban đầu anh bắt ếch đem cớ sự nói anh cho bán dầu nghe, khuyên anh nên ở nhà, nghỉ bán một tuần lễ, nhưng anh bán dầu lại không tin, cho rằng đấy là mê tín vớ vẩn, trên đời không có ma, quỷ. Theo lời le le và bìm bịp, anh bắt ếch viện cớ đến ngày cúng mẹ, gọi anh bán dầu qua nhà tiệc tùng ăn nhậu, chuốc cho anh say mèm đến mức sáng hôm sau không ra chợ bán được. Ngày kia lại lấy cớ sang nhà cảm ơn anh bán dầu đã giúp đỡ, lại bày tiệc ăn uống no say, trì hoãn việc đi ngang cây cầu kia.

Hôm ấy là ngày cuối cùng của thời hạn 7 ngày ma da bắt hồn, do say xỉn nhiều ngày liền nên anh bắt ếch ngủ quên. Anh bán dầu sực tỉnh vào sáng sớm, nhận ra mình đã bỏ buôn bán mấy ngày liền bèn nhanh chóng quẩy hàng ra chợ. Do bước vội vàng qua cầu khỉ cheo leo, lại bị bọn ma da biến phép cho cầu trơn trượt nên sẩy chân rơi xuống nước mà chết. Anh bắt ếch vì tiếc thương bạn nhưng do còn sợ bọn ma da nên phải đợi hết một ngày sau mới dám vớt xác bạn lên mà làm ma chay. Thấy ân nhân của mình đau lòng, le le và bìm bịp cũng bay đến, cất tiếng kêu thảm thiết như tiếng kèn trống đám ma để tiễn biệt một người chết oan.”

Đọc hết truyện cổ tích này thì có lẽ mọi người đều sáng tỏ vì sao trong bài đồng dao “Bắc kim thang” có 4 câu cuối là:

Chú bán dầu, qua cầu mà té.

Chú bán ếch, ở lại làm chi.

Con le le đánh trống thổi kèn,

Con bìm bịp thổi tò tí te tò te.


Thực chất là để diễn tả lại câu chuyện cổ tích đề cao tình bạn và tính chất cứu vật vật trả ơn của người xưa.

Thế nên vấn đề còn lại nằm ở hai câu:

Bắc kim thang, cà lang bí rợ

Cột qua kèo, là kèo qua cột.


Ở câu đầu tiên, “cà, lang, bí rợ” là để chỉ cho 3 loại củ, quả có cùng một đặc tính là thuộc họ dây leo, trái cà, khoai lang và bí rợ. Đặc biệt với từ bí rợ, là một từ thuần chất của miền Nam, cũng đã nói lên xuất xứ của bài đồng dao này là từ miền Tây Nam bộ.

Nói đến “bắc kim thang” thì phải hiểu hơi “hàn lâm” một chút, là từ kim thang ở đây hiểu cho đúng phải là cái thang hình chữ KIM -金- tức là hình tam giác cân. Từ “kim tự tháp” cũng là bắt nguồn từ chữ “kim” này mà có, do chỉ hình dạng cái tháp của người Ai Cập cổ là hình tam giác cân.

Còn cái “kim thang” của con nít ngày xưa là do người lớn dùng hai thanh tre dài, bắt chéo vào nhau tạo thành một hình tam giác cân rồi cắm trên mặt đất, cách vài mét lại đặt một cái như vậy, tạo thành một hàng dài. Bản thân của cái kim thang này trở thành một cái cột (do không có cây cột dựng đứng giữa nên hai thanh tre chéo vào trở thành cột luôn). Những cái kim thang được nối vào nhau bởi cái “vì kèo” là những thanh tre chạy dọc theo giàn, cứ như thế tạo thành một giàn cốt là để cho cà, lang, bí rợ leo lên mà sinh sôi, phát triển.

Vậy “cột qua kèo, kèo qua cột” là chỉ mối quan hệ gắn bó vào nhau của hai vật thể. Cả câu “bắc kim thang, cà lang bí rợ, cột qua kèo, là kèo qua cột” cốt để miêu tả mối quan hệ keo sơn, quấn quít, gắn bó vào nhau của anh bán dầu và anh bán ếch ở bốn câu sau.

Cả bài đồng dao này được viết lại dựa trên câu chuyện cổ tích kia, nên cách lý giải cũng vì thế mà nên hiểu cho đúng. Tuy nhiên trải qua thời gian dài, người lớn không còn kiên nhẫn để giải thích cho con trẻ hiểu về truyện cổ tích kia, thế nên bài đồng dao “bắc kim thang” cứ thế mà lưu truyền, gây ra sự hoang mang, khó hiểu cho người nghe.

"Bắc kim thang cà lang bí rợ. Cột qua kèo là kèo qua cột. Chú bán dầu qua cầu mà té. Chú bán ếch ở lại làm chi. Con le le đánh trống thổi kèn. Con bìm bịp thổi tò tí te tò te".

18 tháng 6 2014

Nhiều..Ít

3 nhận xét
Sáng 18/6, hàng nghìn lái buôn từ các tỉnh đổ về trung tâm vải ở Lục Ngạn (Bắc Giang) khiến cho quốc lộ 31 liên tục ở trong tình trạng kẹt cứng.
Nhập mô tả cho ảnh

Hình ảnh tại khu vực chợ Kép (quốc lộ 31) lúc 9h sáng 18/6.
Nhập mô tả cho ảnh

Nơi đây được coi là vựa vải lớn nhất cả nước. Cảnh tấp nập người và xe diễn ra ngay từ 6h sáng.
Nhập mô tả cho ảnh

Các phương tiện nối dài hàng km, người chở vải cũng không có chỗ tránh.
Nhập mô tả cho ảnh

Không chỉ có lái buôn thồ bằng xe máy, trong số này có cả xe tải đến chợ chở vải.
Nhập mô tả cho ảnh

Phần lớn các lái buôn thường phải đến đây từ hôm trước hoặc 4h sáng xếp hàng.
Nhập mô tả cho ảnh

Mỗi xe máy chở từ 1,2 tạ đến 1,5 tạ.
Nhập mô tả cho ảnh

Giá bán tại đây từ 8000 đồng đến 18.000 đồng/kg tùy loại.
Nhập mô tả cho ảnh

Một người bán hàng bên đường cho biết, cảnh ùn tắc như thế này đã nhiều ngày nay, kéo dài từ 8h đến 11h.
Nhập mô tả cho ảnh

Cách xa chợ vải vài km về phía Nam giao thông có thông thoáng hơn.
Nhập mô tả cho ảnh

Trước đó lúc 7h sáng xuất hiện một cơn mưa lớn đột ngột.
Nhập mô tả cho ảnh

Một lái buôn cho biết, vài tuần nay sáng nào anh cũng lên Lục Ngạn lấy vải về đổ cho các chợ ở quê. "Ngày nào tôi cũng bị kẹt xe nhưng quen rồi, đợi một lúc là hết", anh cười nói.

theo Zing

05 tháng 6 2014

Bện chổi rơm

4 nhận xét
Những năm 80 của thế kỷ trước vào khoảng tháng hai âm lịch, trời vẫn còn rét và lất phất mưa xuân, không khí nồm ẩm, đường sá lép nhép là lúc ông, bà nội tôi lấy rơm từ giác bếp xuống để bện chổi.

Rơm dùng để bện chổi phải là loại rơm nếp, được thu hoạch từ vụ mùa năm trước. Hàng năm, cứ đến vụ gặt lúa mùa (vụ hè thu), bà nội tôi lại đi tuốt lúa hộ mấy nhà trong xóm và xin rơm nếp về để sau này làm chổi.

Những năm đó máy tuốt lúa chưa có, khi gặt về nông dân thường dùng các biện pháp thủ công như đập, tuốt, vò để thu được hạt thóc. Lúa nếp dai hơn lúa tẻ, do đó người ta thường phải dùng đôi đũa tuốt từng bông để lấy hạt, cũng chính vì nó dai như thế nên người ta mới chọn rơm nếp để bện chổi.

Trong những ngày bà đi tuốt lúa, thường thì cứ một, hai tiếng tôi lại chạy sang nhà hàng xóm để mang bó rơm mà bà vừa tuốt được về để ông ở nhà chia thành những bó nhỏ tầm khoảng một chít tay rồi đem phơi nắng. Vài hôm sau, khi rơm đã khô vàng, hai ông cháu lại xếp gọn gàng trên gác bếp để qua Tết mang ra bện chổi.

Rơm được lấy xuống, vẫn theo từng bó, ông kê lên thớt và dùng dao chặt bỏ phần đầu mặt của cọng rơm, sau đó chuyển cho bà và tôi rút lấy phần sợi. Ông dùng sợi lạt nhỏ và mềm để bó những sợi rơm vàng óng thành từng lọn nhỏ (những sợi lạt này được chẻ để gói bánh chưng tết, gói xong còn thừa ông quấn lại và cũng gác lên gác bếp, khi dùng để bện chổi thì lấy xuống ngâm vào chậu nước mấy tiếng cho lạt mềm và dai trở lại). Thường thì mỗi cái chổi to dùng 5 lọn rơm, chổi nhỏ dùng 3 lọn, ông chỉ bện chổi to thôi, còn chổi nhỏ để cho tôi tập bện.

Dăm, bẩy sợi rơm được bện với nhau để thành sợi dây, rồi dùng chính sợi dây đó quấn chặt lọn rơm từ phần lạt buộc lại, được hai hay ba vòng lại ghép thêm một lọn rơm khác. Cứ thế những lọn rơm được xếp phẳng với nhau, còn các sợi rơm đem bện lại, tiếp nối nhau thành sợi dây để quấn cán chổi. Khi cán chổi đã được quấn khoảng hơn gang tay, lúc đó chuyển sang công đoạn chốt cán. Các sợi rơm được tết lại với nhau rất tài tình theo từng lớp nhỏ dần cho đến khi toàn bộ lõi rơm đã được khóa hết. Lúc đó ông dùng một đoạn tre dài chừng hai chục cm vót nhọn hai đầu ở giữa đập dập, xoắn lại để đóng cọc vào lõi cán chổi và cũng là để chốt nút rơm cuối cùng. Đóng cọc xong, ông dùng dao để cắt các đoạn rơm thừa sau khi được khóa tạo thành các con mắt nhỏ xếp vòng quanh cuống chổi, trông cứ như là một quả na nhỏ màu vàng, thế là một cái chổi đã hoàn thành.
Chổi bện xong, để mặt rơm được phẳng phiu, mềm mại ông cẩn thận dùng chiếc lược cũ làm bằng đuya-ra (kỷ niệm thời quân ngũ của ông) để chải hết những hạt thóc còn bám vào rơm, sau đó mới đem dùng.

Cứ mỗi năm, ông, bà tôi thường làm hơn chục cái chổi, vừa để dùng, vừa để làm quà biếu họ hàng, người thân, dùng hết sang năm lại làm. Ngày nay, nhà nông có máy tuốt lúa ngay tại cánh đồng. Gặt xong một loáng là thóc đã được đóng vào bao mang về, còn phần rơm, rạ để lại hết ngoài ruộng, vài hôm thấy khô khô là châm lửa đốt. Khói um từ làng quê lên đến thành phố, do đó không còn rơm nếp mà bện chổi nữa.

Lâu lâu không nhìn thấy cái chổi rơm, chợt nhớ lại những ngày xưa bện chổi.

Sưu tầm

13 tháng 2 2014

Hội Lim

3 nhận xét
Các liền anh liền chị dùng cơi trầu 2 ngăn để mời trầu du khách, du khách không được mời không mà phải trả tiền. Tiền sẽ được nhanh chóng cất xuống ngăn dưới.
Số tiền cũng dao động tùy nơi. Có chỗ được rao bán với giá 10.000 đồng/ miếng trầu. Có chỗ thì “tế nhị” cho biết là “tùy tâm”.
Bên cạnh những nỗ lực đáng ghi nhận của Ban tổ chức như tình trạng cờ bạc đã không còn, tuy nhiên vẫn còn nhiều hình ảnh phản cảm, bị thương mại hóa cứ “đến hẹn” lại tái diễn.
Một số hình ảnh chưa đẹp mà nhóm phóng viên VOV online ghi được tại Hội Lim năm nay:

Hai bên đường lối vào lễ hội là hàng loạt những gian hàng ăn uống, bán hàng và trò chơi giải trí. Trong đó, chiếm phần lớn là các gian hàng bắn súng và ném phi tiêu lấy thưởng,

Bất chấp biển cấm bày, bán hàng rong, những gian hàng lưu niệm, đồ ăn... vẫn tràn lan trên vỉa hè, thậm chí cả dưới lòng đường

Người dân xem hát quan họ tại Hội Lim
Khu vực đồi Lim, nơi diễn ra các trò chơi dân gian và sân khấu quan họ diễn ra trên đồi đất trở nên bụi bặm, gây ô nhiễm không khí do lượng du khách đổ về ngày một đông

Không ít người đến xem hội phải đeo khẩu trang, che mặt cho đỡ bụi

Nhiều du khách về trẩy hội thích thú với dịch vụ cho thuê quần áo quan họ để chụp ảnh lưu niệm. Đây là dịch vụ chui, vì thế du khách thay đồ ngay giữa "thanh thiên bạch nhật" gây phản cảm.
BTC lễ hội sử dụng hệ thống loa thùng, công suất lớn để phục vụ các lán quan họ

Tuy vậy, những lán quan họ cạnh nhau với những chiếc loa thùng có khoảng cách quá gần khiến cho không khí lễ hội trở nên ồn ào, tiếng hát quan họ của các lán lấn át lẫn nhau

Năm nay không còn tình trạng "ngả nón xin tiền" mà thay vào đó là hình thức "mời" trầu lấy tiền.

Phần lớn cơi trầu có hai ngăn, ngăn trên đựng trầu và khi khách trả tiền thì liền anh liền chị sẽ kín đáo cất tiền xuống ngăn dưới. Tiền được trả "tùy tâm" . Tuy nhiên có nơi tiền và trầu vẫn được để liền nhau như một sự "gợi ý"

Hiện tượng "ngả nón xin tiền" đã được cơ bản chấm dứt.

Tuy vậy, thay vì ngả mũ...

Là mời trầu..để đổi lấy tiền...

Lịch sử: Kinh Bắc xưa nổi tiếng là vùng đất của những câu truyện cổ, những sự tích văn hoá. Vì truyền thống này mà nơi đây sở hữu nhiều lễ hội dân gian. Lễ hội được nhiều người quan tâm nhất là Hội Lim tại thị trấn Lim, Tiên Du, Bắc Ninh. Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá - nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá truyền thống lâu đời ở xứ Bắc và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn hoá chung của dân tộc Việt, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ. Hội Lim chính là hội chùa làng lim và đôi bờ sông Tiêu Tương. Hội Lim trở thành hội hàng tổng (hội vùng) vào thế kỷ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc, có nhiều công lao với triều đình, được phong thưởng nhiều bổng lộc, đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục. Ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộ của mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim. Do có nhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ở chùa Hồng ân, nên khi ông mất nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân có tên Hồng Vân từ bi ký niên đại Cảnh Hưng 30 (1769) hiện giữ ở đình thôn Đình Cả đã cho biết khá rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng hậu hàng tổng Nguyễn Đình Diễn mỗi năm hai dịp vào "ngày sinh" và "ngày hóa" của ông tại lăng Hồng Vân và chùa Hồng ân trên núi Lim. Song trải tháng năm lịch sử, hội Lim đã có nhiều lớp văn hóa, trong đó người ta chỉ tổ chức tế lễ hậu thần vào một dịp là ngày 13 tháng giêng trùng với hội chùa Lim. Chính vì vậy mà có hội Lim và đây là hội hàng tổng.