19 tháng 11 2009

Thương lắm

2 nhận xét
Gian nan đưa chữ lên ngàn
"Không phải "ba cùng" đâu, ở Hà Giang này, giáo viên phải "bốn cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng ngôn ngữ - PV) mới dạy tốt được. Ở đây đa số đồng bào là người Mông, nhiều khi tới vận động, họ cố tình "không hiểu tiếng Kinh", lúc đó thì phải có vốn tiếng Mông mà xoay xở" - thầy giáo Trần Văn Tiệp (quê Nam Định), Hiệu phó Trường Tiểu học Pả Vi (Mèo Vạc - Hà Giang) tâm sự với chúng tôi. 20 năm rời miền xuôi lên vùng cao nguyên đá lập nghiệp, anh quá hiểu nỗi vất vả của những người giáo viên cắm bản. Những chuyến vượt rừng, lội suối, lạc trong đêm để đi "kéo" học sinh tới lớp… anh đều đã trải qua.

Tôi gặp cô giáo Nguyễn Mai Hoa (quê Hà Nội) trong một lần đi công tác ở xã biên giới Tả Gia Khâu (Mường Khương - Lào Cai). Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Hà Tây (cũ), Hoa tình nguyện viết đơn xin đi lên vùng sâu vùng xa. Lần đầu tiên tới nhận công tác tại Trường THCS Tả Gia Khâu, Hoa thật sự ngỡ ngàng khi thấy trước mặt là ngôi trường quá xập xệ được đặt cheo leo bên sườn núi.

Hoa kể: "Suốt 2 tuần, cứ dạy xong lại lên mỏm đá ngồi khóc vì nhớ nhà. Thế mà giờ quen rồi. Học sinh ở đây khổ, thương lắm". Mỗi năm về quê hai lần vào dịp Tết và hè, cuộc sống của cô giáo Hoa giờ đã thực sự gắn với núi rừng vùng biên.

Những chuyến đi rừng để vận động học sinh tới lớp đã là công việc thường ngày của những giáo viên cắm bản vùng cao. Nhiều khi họ gặp phải thái độ bất hợp tác từ phía cha mẹ học sinh. Thầy giáo Tăng Xuân Chiến - Trường Tiểu học Giàng Chu Phìn (Mèo Vạc - Hà Giang) đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện đi vận động em Sùng Thị Say (xóm Nia Do) tới trường. Vào mùa làm nương, Say bỏ học theo cha mẹ đi rừng. Cứ tối, khi bố mẹ Say đi nương về, thầy Chiến lại xách đèn đến nhà vận động. Lần nào bố mẹ Say cũng đóng cửa, thả chó ra xua đuổi. Về sau, nhà trường phải nhờ lãnh đạo Ủy ban xã đi cùng, bố mẹ Say mới tiếp chuyện. Cuối cùng Say cũng được trở lại lớp. Nhiều nơi, vì địa hình hiểm trở, giáo viên phải đi bộ nửa ngày đường mới tới nơi, cũng có khi nửa đêm vẫn mắc kẹt trên núi vì mệt, vì đói.

Tôi đã từng chứng kiến một lớp học chỉ có 2 học sinh, giáo viên vẫn phải dạy. Mùa đông, thời tiết vùng cao trở nên khắc nghiệt, nhiều khi nhiệt độ xuống tới 7-8 độ C, thầy trò vẫn mỏng manh trong tấm áo cộc, vừa dạy vừa học, người tái đi vì rét. Có cô giáo đang giảng bài cũng phải ngừng lại để đi thổi cơm vì học sinh đói, muốn bỏ về.

Nhớ một bữa cơm cùng các giáo viên ở điểm trường Dì Chủa Phàng, Há Cá Thình (Giàng Chu Phìn - Mèo Vạc), chúng tôi càng thêm cảm thông. Bữa cơm "tiếp khách" cũng chỉ đơn sơ có cơm ngô với rau rừng. Vậy mà nhiều khi giáo viên còn phải nhường cơm cho học sinh để chúng ham tới lớp...

Nỗi niềm giáo viên "cắm bản"
Đời sống của giáo viên cắm bản vùng cao còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nhiều nơi giáo viên vẫn phải sống trong những lán nhà dựng tạm bợ, không đủ sức chống chọi với mưa nắng. Nhiều nơi thiếu trầm trọng nước sinh hoạt, giáo viên phải đi xa mấy cây số gánh nước về đổ chum dùng dần.

Các thầy cô ở Trường THCS Tả Gia Khâu vẫn kể chuyện, muốn nấu cơm thì phải nhịn tắm để tiết kiệm nước. Trường đã xây 6 phòng ở cho giáo viên. Thế nhưng, cái gọi là "nhà công vụ" cho giáo viên chỉ là những tấm gỗ dựng tạm, còn rất xập xệ. Các giáo viên phải ở ghép 2-3 người trong một buồng hẹp chỉ khoảng 15m2. Nhiều căn phòng còn được căng nilon để tách riêng cho 2 cặp vợ chồng.
Các giáo viên ở điểm trường Cò Phạt, Môn Sơn - Con Cuông, Nghệ An vừa dạy học vừa ở trong những lớp học dựng tạm bằng tre nứa.


Tại điểm Trường Mã Pì Lèng (Pả Vi - Mèo Vạc - Hà Giang), giáo viên phải ở tạm ngay trong lớp học dựng bằng tranh tre, gió thổi vào lạnh buốt. Tôi đã ám ảnh rất nhiều về một lớp học ở cao nguyên đá Đồng Văn nồng nặc trong mùi phân trâu. Giáo viên ngày nào cũng phải tới sớm để dọn dẹp trước khi vào lớp. Buổi tối lại phải đi tìm tre nứa rào lớp ngăn không cho trâu vào.

Một số bản còn chưa có điện, giáo viên phải soạn giáo án bằng đèn dầu, rồi cứ sáng tới lớp, chiều lên rừng kiếm củi về nấu bếp. Giao thông đi lại khó khăn, sóng điện thoại nhiều nơi không có, mọi hoạt động giao lưu với bên ngoài bị cản trở, thời tiết khắc nghiệt… không thể cản bước chân đầy khát vọng cống hiến của những thầy cô "cắm bản". Có một điều thật lạ là, những giáo viên vùng cao tôi đã gặp, không ai có ý định về xuôi. Với họ, hạnh phúc là được hy sinh.

Tôi đã gặp những cô giáo "chậm duyên", được nghe họ tâm sự những khao khát về tình yêu, một mái ấm gia đình nho nhỏ. Cái khát vọng tưởng chừng quá đỗi đơn giản ấy xem ra lại trở nên xa vời với những giáo viên cắm bản. Cô giáo Trần Thị Bình - Trường THCS Pha Long (Mường Khương - Lào Cai) than thở: "Dạy học ở đây tính ra đã trên 10 năm rồi nhưng cơ hội gặp gỡ giao lưu không nhiều. Pha Long là xã biên giới heo hút, đi lại khó khăn nên rất hiếm khi có "người lạ" ghé thăm". Tôi đã quan sát chị rất lâu để nhận ra, từ trong thẳm sâu ánh mắt ấy hiện lên một nỗi buồn diệu vợi.

Không thể nói hết những hi sinh thầm lặng của những người giáo viên cắm bản vùng cao. Họ cứ lặng lẽ làm công việc của mình, không chờ vinh danh, không đợi ghi công. Vùng cao trở thành nơi thử thách ngọn lửa nhiệt tình của người trẻ. Cái chữ được gieo mầm, hé lộ tương lai đổi thay cho những bản vùng cao xa xôi. Hạnh phúc thì có thể dễ dàng nhận ra, nhưng nỗi buồn của những giáo viên "cắm bản" thì không phải ai cũng hiểu.
Hà Ly
Nguồn bài viết
Chia sẻ:
KeChuyen Blog Bài đăng bới KeChuyen ngày 19.11.09 với từ khóa ,,,, Bạn có thể theo dõi KeChuyen Blog qua RSS 2.0 nhận bài viết mới nhất qua email bằng cách nhập email của bạn tại đây, hoặc kết bạn với KeChuyen Blog. Sao bạn không để lại cảm nhận sau khi đọc bài viết nhỉ.

2 nhận xét:

Pika Rock nói...
13:05 20 tháng 11, 2009

nhiều người thật dũng cảm :| đáng khâm phục

KeChuyen nói...
13:11 20 tháng 11, 2009

Không biết phải thương ai nữa. Thương thày phải khổ cực thì lại không đúng với lũ trẻ vùng cao, chúng thiếu Chữ, chúng thiếu Tri thức.
Thương lũ trẻ vùng cao, thì lại khổ cho Thày..
Đáng thương, cả 2 đều đáng thương.

Đăng nhận xét

* Mong các bạn sử dụng Tiếng Việt khi nhận xét.