12 tháng 4 2010

Mạc Đĩnh Chi - Giai Thoại (Phần 3/5)

0 nhận xét
Quyết định của vua thật bất ngờ. Ngay ngày hôm đó, vua cho vời Mạc Đĩnh Chi vào cung và ra lệnh cho các quần thần phải làm đầy đủ mọi nghi thức đối với một vị tân trạng nguyên.

Vì cảm phục tài năng của Mạc Đĩnh Chi, vua Anh Tông phải cho đỗ trạng. Nhưng trong thâm tâm vua và các quan đại thần triều Trần đều không có ý trọng dụng vị tân trạng nguyên có tướng mạo xấu xí ấy. Vì thế, mấy năm rồi Mạc Đĩnh Chi chỉ được làm một chức quan nhỏ: Nội thư gia, chức quan ít quyền hành, không có điều kiện thi thố tài năng.

Nhưng rồi, có lần vua Anh Tông đã nhận ra sai sót của mình và phải trọng dụng Mạc Đĩnh Chi. Chuyện ấy cả kinh đô ai cũng biết. Giới văn thần từ đó càng khâm phục Mạc Đĩnh Chi hơn.

Ngày ấy, sứ nhà Nguyên sang nước Việt để thăm dò nhân tài. Đang trên đường tới Thăng Long, viên sứ đột ngột dừng lại ở trạm Xương Giang. Từ đấy, gửi cho vua Trần một phong thư và cố ý chờ không chịu đi tiếp. Thư đến Thăng Long, vua Anh Tông mở ra xem thì chỉ thấy một bài thơ ngụ ngôn như sau:

Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành giang

Thật là một bài thơ kỳ quặc, vua Trần chịu không hiểu. Vua hội các quần thần, nhưng luận bàn mãi không ai giải đoán ra được. Có người tâu vua, thử cho vời Mạc Đĩnh Chi đến hỏi. Nhưng Mạc Đĩnh Chi đã về quê hộ tang mẹ từ tháng trước. Chỉ cần trả lời chậm cũng làm nhục quốc thể; huống chi cả triều đình đang bó tay không hiểu. Chẳng đừng được, vua sai đem xe ngựa nghi trượng gấp đi đón Mạc Đĩnh Chi hồi triều. Vua cố ý dùng nghi lễ trang trọng đón vị trạng nguyên, cốt để xí xóa chỗ sai sót, lâu nay không trọng dụng tài năng của Mạc Đĩnh Chi.

Giữa lúc ấy Mạc Đĩnh Chi đang sống ở quê nhà, ngay ngôi nhà tồi tàn mà ngày xưa hai mẹ con đã sống, người tiều tụy hẳn đi. Nhác thấy nghi lễ đón mình quá trang trọng, Mạc Đĩnh Chi thoáng sửng sốt. Nhưng rồi vị trạng nguyên trẻ tuổi đã đoán ra:

- Có phải sứ nhà Nguyên đã sang đấy không Mạc Đĩnh Chi hỏi viên quan bộ lễ, khi viên quan này chưa kịp chào.

Viên quan bộ lễ kinh hoàng:

- Thật không ngờ quan trạng đã thấy trước được mọi việc. Vương thượng đang nóng lòng chờ quan trạng.

Mạc Đĩnh Chi Nghĩ thầm: Chắc có điều gì nan giải, ai nấy phải bó tay nên vua mới vời mình về. Vua đã bao giờ thực bụng dùng mình đâu. Nhưng linh tính như báo trước có việc hệ trọng lắm, nên Mạc Đĩnh Chi nén thương đau, bỏ qua những phật ý nhỏ nhặt vội lên xe ngựa.

Vừa tới kinh, vua Anh Tông an ủi Mạc Đĩnh Chi rồi vừa đưa phong thư của sứ Nguyên cho Mạc Đĩnh Chi, vừa nói:

- Sứ nhà Nguyên quen thói hống hách gửi cho trẫm thư này. Khanh khá vì trẫm để giảng giải ý nghĩa cho trẫm nghe.

Mạc Đĩnh Chi đỡ lấy bài thơ. Đọc xong vị trạng nguyên trở lại dáng hoạt bát, linh lợi thường ngày:

- Muôn tâu vương thượng, cái trò đánh đố nhỏ nhặt này bõ bèn gì mà vương thượng phải bận lòng suy nghĩ.

- Khanh nói sao? Vua hồ hởi, cắt ngang Ý tứ của bài thơ phải luận ra thế nào?

Muôn tâu vương thượng Đó là chữ Điền Và bài thơ có nghĩa là:

Hai nhật bằng đầu để sóng hàng

Bốn sơn xáo trộn dọc ngang.

Hai vương nghiêng ngửa lo tranh nước.

Bốn khẩu liền nhau ghép chữ vàng.

Vua vỡ nhẽ, nức nở khen:

- Khanh đã giúp trẫm giải được điều có thể làm nhục đến quốc thể.

Hiểu ra ý tứ bài thơ, giới văn thần vô cùng khâm phục Mạc Đĩnh Chi.

Sứ nhà Nguyên càng kinh hoàng hơn, bởi vì cũng chỉ ở nước nam này, ý nghĩa bài thơ cũng được khám phá.

Được vua Anh Tông cử đi sứ theo yêu cầu vua Nguyên, Mạc Đĩnh Chi vừa vui vừa lo. Vui vì đây là lần đầu tiên Mạc Đĩnh Chi được vua giao cho trọng trách, được có dịp đem thi thố những hiểu biết cống hiến cho dân nước.Lo vì nhà Nguyên là một triều đại lớn, chúng quen hống hách trịnh thượng, nếu mình có sai sót gì thì điều ấy sẽ làm tổn hại đến danh dự một nước. Bao người đi sứ trước đã chẳng phải chống chọi với bao nhiêu thách đố tinh vi, bắt nguồn từ sự khinh thị của tầng lớp thống trị một nước lớn đối với một nước nhỏ? Chẳng phải trong khi vua quan nhà Nguyên muốn đích ta phải đi sứ, họ vẫn xưng xưng gọi ta là bồi thần đó sao? Việc được giao nặng nề và khó khăn, nhưng chính vì thế Mạc Đĩnh Chi đã đón nhận trọng trách ấy một cách phấn chấn. Hơn thế nữa, việc đi sứ đã đặt cho Mạc Đĩnh Chi nhiều suy nghĩ. Mấy năm làm quan trong triều, được đi đây đó, nơi đâu chẳng có dấu vết bao cảnh tàn phá khủng khiếp của giặc Nguyên để lại. Ngay thành Thăng Long này, giặc Nguyên đã có lần san phẳng thành tro bụi tất cả. Ba lần kéo sang xâm lược với binh hùng tướng mạnh, với những đội quân chưa hề nếm mùi chiến bại trên các nẻo đường chinh chiến, gây đau thương cho biết bao dân tộc, xứ sở. Nhưng đến nước Đại Việt này, cả ba lần quân Nguyên đều bị đánh bại cho thất điên bát đảo, phải tháo chạy như lũ chuột về nước. Vậy mà chúng vẫn thường hạch sách, bắt vua tội nước Việt phải thuần phục chúng? Có thể nào lại vô lý như thế được? Mạc Đĩnh Chi nhói lên căm giận Chẳng lẽ kẻ ba lần đại bại lại ỷ thế nước lớn, đòi quyền này quyền khác, bắt kẻ chiến thắng phải thuần phục, theo thói lấy thịt đè người được sao? Chẳng hay tấy vua quan nhà Trần nhún nhường vì không muốn gây thảm họa binh đao nên nhà Nguyên ỷ thế mà làm già? Xuất phát từ những suy nghĩ ấy, Mạc Đĩnh Chi cứ tự nhủ: Trong lần đi xứ này, phải giữ vững tư thế của người chiến thắng, chống lại những đối xử bất công và thái độ khinh thị nước nhỏ của nhà Nguyên. Hơn thế nữa, tiếng nói của đoàn xứ Đại Việt ở triều Nguyên phải là tiếng nói đĩnh đạc của kẻ chiến thắng. Ta sẽ không gây sự căng thẳng dẫn đếmn mối hiềm khích giữa hai nước Mạc Đĩnh Chi thầm nghĩ cũng không tỏ ra sĩ diện của một nước dù nhỏ, nhưng đã lập lên kỳ công, đánh thắng kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội. Trái lại, theo Mạc Đĩnh Chi, đi sứ lần này chính là cuộc đấu trí, đấu lý để tuyên ngôn dụng ý nước Đại Việt và nước Nguyên đều hùng cứ một phương và chống lại mọi sự khinh miệt, cậy thế nước lớn của người Nguyên, gìn giữ quốc thể. Người đi sứ vì vậy, tựa như người lính khi xuất trận, phải tỉnh táo giáng trả mọi đòn tinh vi từ mọi hướng, và mối bang giao hữu hảo giữa hai nước chỉ được kiến lập khi vua quan nhà Nguyên không dám coi thường nước Đại Việt.

Việc đi sứ đã vạch xong, thái độ đi sứ đã định rõ, Mạc Đĩnh Chi thấy thanh thản lạ thường. Chỉ còn việc cuối cùng là tự bồi bổ cho mình kiến thức uyên thâm, làm lợi khí cho những cuộc đấu trí trước khi lên đường. Cả về mặt này nữa, Mạc Đĩnh Chi cũng không dám coi thường. Vì vậy, mấy tháng ròng Mạc Đĩnh Chi không mấy khi rời khỏi nhà. Đĩnh Chi để toàn sức vào việc ôn luyện văn thơ, đọc kinh sử nước Nguyên, tìm hiểu phong tục người nguyên. Rồi, biết ai từng đi sứ, dù xa mấy, Mạc Đĩnh Chi cũng tìm đến hỏi điều hay lẽ phải cho bằng được.

Gần đến ngày đi sứ, vua Anh Tông cho vời Mạc Đĩnh Chi vào triều căn dặn:

- Lần này hoàng đế nhà Nguyên muốn trẫm cử khanh đi sứ chắc là muốn để thử tài khanh. Trẫm yên lòng vì biết khanh để công khó nhọc luyện tập văn sách, phòng khi phải dùng đến. Tuy thế, chuyến đi này khanh phải cẩn thận lắm mới được. Đừng để mềm quá người ta lên mặt cũng đừng thái quá sợ tổn hại đến mối giao ban giữa hai nước. Giao cho khanh việc lớn là để khanh đền ơn và báo ơn trẫm đó!

Mạc Đĩnh Chi cung kính đáp:

- Muôn tâu vương thượng! Việc học không biết bao nhiêu cho đủ. Nhưng thần xin gắng hết sức để khỏi phụ lòng tin của vương thượng. Thần đã nghĩ kỹ rồi Đĩnh Chi tiếp, sau một khắc yên lặng ta là nước thắng trận, cho nên trong mọi việc, ta phải giữ được tư thế đường hoàng của người thắng trận.

Vua Anh Tông không dấu được niềm vui.

- Khanh sẽ làm rạng danh nước Đại Việt đúng tầm vóc của nó. Ta tin nơi khanh vì khanh đã nói tới lẽ ấy. Mạc Đĩnh Chi lui rồi, vua Anh Tông nói với quần thần:

- Ta nghiệm rằng Mạc Đĩnh Chi nhỏ bé nhưng lúc nào cũng giữ được phong độ ung dung thư thái. Con người mẫn tiệp ấy sẽ lưu lại tiếng thơm ở nước người. Các khanh có nghĩ như vậy không?

Quần thần văn võ đều đáp:

- Chọn đi sứ lần này không ai hơn ngoài quan trạng.

Sau bao ngày hành trình, đoàn sứ Đại Việt do Mạc Đĩnh Chi dẫn đầu đã đến ải Pha Lũy. Rủi thay, gặp ngày mưa to gió lớn nên đoàn sứ đến cửa ải sai hẹn với viên quan coi ải nhà Nguyên. Đoàn sứ đến, cửa ải bị đóng kín. Mạc Đĩnh Chi nói mãi, người Nguyên vẫn không chịu cho qua. Sau, họ vứt từ ải xuống một vế đối bảo hễ Mạc Đĩnh Chi đối được thì mới mở cửa ải:

Quá quan trì, quan quan bế, nguyệt quá kách quá quan

Thật là một câu đối hiểm hóc. Trong có mười một chữ mà riêng chữ quan nhắc lại bốn lần, chữ quá nhắc lại ba lần. Chưa chi bọn quan lại nhà Nguyên đã cố tình thách đố, gây khó dễ. Mạc Đĩnh Chi nghĩ thầm và toát mồ hôi vì vế đối rất khó, không thể nghĩ ra trong chốc lát được. Hẳn là một câu đối có chuẩn bị của một văn quan nào đó trong triều đình nhà Nguyên. Nếu vậy chắc gì viên quan võ này đã đối được. Mạc Đĩnh Chi thích thú với giả định ấy. Và, để dồn đối phương vào thế bí không thể tránh khỏi, Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu đọc.

- Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối

Tình thế bỗng đổi khác. Tưởng đã bí thế hóa ra một câu đối hay. Viên quan nhà Nguyên chịu là vị trạng nguyên đất Đại Việt có tài ứng biến đã chuyển bại thành thắng, nên lập tức xuống mở cửa ải, ân cần đón Mạc Đĩnh Chi.

Tin viên bồi thần nước Đại Việt, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, đã phá được câu đối ở cửa ải Pha Lũy khiến cho vua và giới văn thần triều Nguyên hết sức chú ý. Vì vậy, vua quan nhà Nguyên vừa có ý gờm vừa chuẩn bị để có dịp làm nhục viên sứ nước Đại Việt cho hả giận.

Ngay hôm đầu vào bệ kiến, vua Nguyên muốn đích thân thử tài Mạc Đĩnh Chi, nhân thể để dò khí tiết của viên sứ, nên ra vế đối:

- Nhật: Hỏa, vân: Yên, bạch đản thiêu tàn ngọc thỏ

Biết là vua Nguyên kiêu căng, tự coi mình là mặt trời và coi Đại Việt như mặt trăng, ban ngày phải bị mặt trời thôn tính, Mạc Đĩnh Chi thấy cần phải tỏ rõ thái độ của mình. Hơn thế khẳng định nước Đại Việt ở thế thắng nên ứng khẩu đọc ngay:

Nguyệt: Cung, tinh: đan, hoàng hôn xạ lạc kim ô

Thật là một câu đối sắc như lưỡi kiếm, đầy khí phách của kẻ chiến thắng mà lại rất chỉnh. Vua Nguyên thấy mình bị trả miếng rất đau, nhưng cũng hết sức phục tài viên sứ nước Đại Việt. Vì vậy, vua tỏ ra vui vẻ:

- Quả là danh bất hư truyền. Lời đồn đại về tài năng của ngươi thật chẳng ngoa. Nói rồi, vua Nguyên sai ban rượu ngon và bắt viên nội giám xuất nhiều vàng bạc trong kho để tặng thưởng cho Mạc Đĩnh Chi.

Trước lúc ra về, vua Nguyên làm như chợt nhớ ra điều gì, vội hỏi:

- Ta nghe nói khi trước chỉ vì một bài thơ của sứ thần ta mà triều đìn vua Trần phải bó tay, không giải được, vua Trần buộc phải nhờ đến nhà ngươi, trọng dụng nhà ngươi và xí xóa hết hiềm khích cũ, chuyện ấy có không?

Mạc Đĩnh Chi bình thản nói:

- Tâu bệ hạ! Giải nghĩa một bài thơ là bổn phận của bề tôi chứ đâu phải của vua. Huống chi thần mới đỗ trạng, giao cho thần luận giải bài thơ chỉ là vì vua muốn xem tài học vấn của thần đến đâu thôi.

Vua Nguyên thấy không dễ lung lạc được Mạc Đĩnh Chi nên bỏ dở câu chuyện không nói tiếp.

Đoàn sứ Việt Nam được nghỉ mấy ngày để đi xem phong cảnh thành Biện Kinh cổ kính, trước khi vào phủ tể tướng. Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ đã đi khắp đó đây và dừng lại không biết bao lần, ngắm xem vẻ đẹp lộng lẫy của khu hoàng thành. Nguyên Thế Tổ sau khi chiếm được nước Tống đã tập trung về đây những thợ kiến trúc giỏi nhất để sửa chữa, tu bổ lại kinh thành, biến Biện Kinh thành một hòn ngọc của cả vùng. Tại Biện Kinh cũng như cuộc hành trình dài ngày trên đất Tống, Mạc Đĩnh Chi đã gặp gỡ tiếp xúc với bao nhiêu người Tống. Nhân dân Tống đã đón tiếp đoàn sứ thân thiện và bày tỏ mối cảm thông sâu sắc, chân thành đối với nhân dân Đại Việt, những người từng chống kẻ thù chung là giặc Nguyên. Họ không giấu được sự vui mừng trước kỳ công của nhân dân Đại Việt đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên và hứa hẹn họ sẽ có ngày giấy cờ nghĩa đánh đuổi bọn giặc đang giày xéo, hãm hại dân tộc họ vào vòng lầm than. Ngược lại, tự coi mình là những người anh em, Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ Đại Việt trước sau đều bày tỏ lòng kính trọng và thông cảm nỗi khó khăn mà nhân dân Tống đang chịu đựng. Bằng những cuộc tiếp xúc ấy, Mạc Đĩnh Chi thấy rõ, chỉ có bọn vua quan nhà Nguyên và những người Tống can tâm giở giáo đón giặc, mới có ác cảm với dân chúng Đại Việt. Mạc Đĩnh Chi không thể nào quên được lần đụng độ với tên quan người Tống hôm trước. Lúc ấy, Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ đang cưỡi lừa đi xem hàng phố, thì bỗng lừa Mạc Đĩnh Chi đụng độ với ngựa của viên quan người Tống. Tên quan nhìn Mạc Đĩnh Chi bằng nửa con mắt và đọc một câu tỏ rõ sự khinh thị.

- Xúc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân giả. Tây di chi nhân giả.

À, thằng cha này không biết thân phận, không biết xấu hổ phải ăn cơm thừa của người Nguyên lại còn lấy chữ "Đông di" ở sách Mạnh Tử, tỏ ý khinh rẻ, cho ta là kẻ mọi rợ, man di sao? Mạc Đĩnh Chi tự hỏi. Và trong cơn giận không kìm được, Mạc Đĩnh Chi nhìn thẳng vào mắt tên quan, đáp:

Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư?

Mạc Đĩnh Chi rất hài lòng về câu nói ấy, vì chữ "Nam phương" lấy ở sách Trung Dung đã nói rõ thâm ý người phương Bắc chắc gì đã mạnh hơn người phương Nam, nếu mạnh hơn sao lại chịu để giặc Nguyên đô hộ?

Viên quan người Tống tỏ ý xấu hổ, ra roi cho ngựa đi thẳng không dám hoạnh họe nữa.
Chia sẻ:
KeChuyen Blog Bài đăng bới KeChuyen ngày 12.4.10 với từ khóa Bạn có thể theo dõi KeChuyen Blog qua RSS 2.0 nhận bài viết mới nhất qua email bằng cách nhập email của bạn tại đây, hoặc kết bạn với KeChuyen Blog. Sao bạn không để lại cảm nhận sau khi đọc bài viết nhỉ.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

* Mong các bạn sử dụng Tiếng Việt khi nhận xét.